Ngày đăng: 08/30/17

Cuộc sinh tồn của các thương hiệu Việt - Ngôi sao cô đơn

Rất nhiều trong số những thương hiệu làm người Việt Nam xúc động, ra đời trong thời bao cấp hay những năm trước dỡ bỏ cấm vận. Chúng là những đứa con rơi của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nơi mà đôi khi chỉ nêu lên khái niệm “thị trường” thôi cũng có thể bị kết tội tư tưởng. Như  Cao Sao Vàng – một sản phẩm trứ danh – nhiều năm chỉ được cho sản xuất để xuất khẩu, không được phép tự tìm kiếm thị trường trong nước.

“Đã có thời, người Việt dù biết chữ hay không, sáng hay tối, sờ vào vỏ hộp là biết”

Ông Bùi Xuân Hưởng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 3 tự hào nhắc đến hộp cao huyền thoại thời bao cấp.

Ông Hưởng vẫn còn nhớ ngày trở thành nhân viên kỹ thuật của xí nghiệp vào mùa đông năm 1983, khi mới tốt nghiệp Đại học Dược. Ngày đầu đi làm, quần áo trắng tinh thơm mùi vải. Lần đầu bước chân vào xưởng sản xuất cao sao vàng, Hưởng phải bước qua mấy lớp cửa, rửa chân tay, thay quần áo. Ấn tượng đầu tiên, là những nữ công nhân mặc đồ trắng tinh tươm, miệng đeo khẩu trang, đầu đội mũ cắm cúi đóng gói.

Ông Bùi Xuân Hưởng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 3

Hộp cao ở thời vàng son, nên công nhân cũng có giá. Cái xưởng ấy là nơi thu hút nhất trong xí nghiệp, đi gần đã ngửi thấy mùi quế, long não thơm nhức mũi. Mỗi chiều tan ca là vang tiếng cười đùa của nữ công nhân, toàn các cô gái trẻ, mới tốt nghiệp phổ thông, mặt mũi cô nào cô nấy sáng sủa, sạch sẽ.

Thời tem phiếu, trăm thứ thứ gì cũng phân phối, từ cân gạo, hạt muối đến viên thuốc, thì lọ cao chỉ dùng cho xuất khẩu, không phân phối ở ngoài trở thành của hiếm. Có người đã bị đuổi vì giấu một hộp cao. Công nhân tan ca, ra khỏi xưởng là nam qua phòng nam, nữ qua phòng nữ để kiểm tra.

Cuối năm, Hưởng cũng được cho một hộp, vì là người của xí nghiệp. Cậu mang về biếu mẹ. Bà quý hộp cao, thi thoảng đau đầu mới dám mang ra ngửi, dùng rón rén cả năm.

Hộp cao ấy đã gần 50 tuổi, từng làm mưa làm gió trên thị trường, có mặt ở khoảng 15 quốc gia, mang về hơn 2 triệu đôla ngoại tệ cho đất nước vào những năm 80. Nó mang một cái tên giản dị, là Cao Sao Vàng.

Những hộp cao Sao Vàng đầu tiên ra mắt từ năm 1969. Hơn 10 hoạt chất và tá dược, như long não, hương nhu, bạc hà… chứa trong chiếc hộp bằng thép lá chuyên trị nhức đầu, cảm cúm, côn trùng đốt nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

Trước thời kỳ Đổi Mới, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Việt Nam đều được hoạch định, chỉ tiêu hóa từ cấp trung ương đến địa phương thông qua một ủy ban kế hoạch của Nhà nước. Việc giao thương hầu như chỉ mở ra với Hội đồng Tương trợ kinh tế SEV gồm các nước khối Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Âu.

Khi Việt – Xô đạt thỏa thuận hợp tác xuất khẩu sản phẩm này, Tổng công ty Dược Việt Nam đã giao cho 5 xí nghiệp dược cùng sản xuất. Thời kỳ đỉnh cao sản xuất đến 100 triệu hộp, riêng xí nghiệp dược phẩm ở Đà Nẵng được giao chỉ tiêu 20 triệu hộp.

Thời kỳ ấy, cao Sao Vàng hầu như không bán ra thị trường nội địa. Nguyên liệu, bao bì, hộp thiếc đều được phân phối từ trên xuống, giao chỉ tiêu bao nhiêu thì phải làm đủ, thiếu thì giải trình, dư thì báo cáo. Nếu có dôi dư thì xí nghiệp phải chuyển lên đơn vị cấp một để phân phối về các cửa hàng quốc doanh theo chế độ tem phiếu.

“Những năm bao cấp, nhắc đến dược phẩm thì cao Sao Vàng không có sản phẩm cạnh tranh, như mậu dịch viên trên tình trường không có đối thủ” - ông Hưởng hoài niệm.

Cũng trong thập kỷ 60, ở Thái Lan và Singapore, những người nhập cư gốc Hoa bắt đầu lần mò với những sản phẩm “dầu cù là” hay là “dầu gió” của mình. Không có những xí nghiệp đầy hăng say và kỷ luật; không có sự hỗ trợ máy móc cơ khí từ các nước khác, những doanh nghiệp gia đình này lần mò bán những hộp dầu, hộp cao đầu tiên như một thứ thuốc gia truyền.

Những dòng sản phẩm ấy, tiêu biểu như là dầu gió và cao Siang Pure hộp đỏ của Thái Lan, giờ đã thống lĩnh thị trường Đông Nam Á - mở nhà máy ở Trung Quốc và Campuchia. Doanh thu của Bertram Chemical - công ty sở hữu nhãn dầu gió đỏ Siang Pure - hiện tại ước đạt hơn 20 triệu USD mỗi năm, và hơn một nửa trong số đó đến từ xuất khẩu.

Người ta có thể dễ dàng tìm thấy một cửa hàng phân phối dầu gió và cao Thái Lan tại Việt Nam thời điểm này: như nhiều doanh nghiệp Thái Lan khác, Bertram Chemical xác định rằng Việt Nam là một thị trường chính yếu.

Cao Sao Vàng giờ đang ở đâu?

Khi Liên Xô, Đông Âu bước vào thời kỳ khủng hoảng những năm cuối thập kỷ 80, sản lượng giảm sút. Rồi dự án xuất khẩu bị dừng. Các cán bộ của xí nghiệp bị sốc khi nghe dự án dừng lại. Quy mô xưởng sản xuất cao ngay lập tức bị thu hẹp, nhân công giảm từ hơn 300 người xuống còn vài chục. Xí nghiệp chuyển từ bao cấp sang tự hạch toán. Hơn 500 người, một số nghỉ hưu, người chuyển công tác, chỉ còn khoảng 200.

Đất nước chuyển mình Đổi mới, chấp nhận nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Dược phẩm Trung ương 3 đứng ở đỉnh cao trong thời kỳ bao cấp về sản phẩm đông dược nên cũng ì trệ, đến khi mở cửa thị trường thì ít nhiều choáng ngợp. Xác định không còn xuất khẩu, xưởng cao Sao Vàng chuyển về 16 Lê Đại Hành (Hải Phòng), mày mò tìm lối đi.

Hướng về thị trường nội địa, lọ cao trứ danh có mặt trong tủ thuốc của mọi gia đình Việt những năm 90. Nhưng chỉ sau một thời gian ngụp lặn trong nền kinh tế thị trường, ngôi sao sáng một thời giã biệt ánh hào quang, âm thầm nhường chỗ cho các sản phẩm khác lên ngôi. Cho đến những năm 2000, cao Sao Vàng dần vắng bóng, khi các loại cao, dầu nước ngoài ồ ạt đổ vào.

Ông Hưởng trong sân nhà máy

Người ta cho rằng, ngửi cái mùi cao có cảm giác gặp người đang ốm, trong khi dầu gió có hương nhẹ, dễ dùng. Có thời, đi đâu về người ta cũng biếu nhau một lọ dầu gió của Singapore rất thơm, giá vài trăm nghìn. Ông Hưởng được người anh đi tàu viễn dương cho một lọ, thi thoảng mang ra ngửi một chút, nhưng rồi không nhẹ đầu nên vẫn phải dùng cao Sao Vàng. Ông kể, bọn trẻ trong nhà cũng theo trào lưu, đi nước ngoài nhiều khi mua đủ loại dầu xoa bóp về biếu. Ông chỉ dặn đừng mua nữa, ở nhà thiếu gì, dùng cao Sao Vàng vẫn tốt hơn.

Ông Hưởng từ chối tiết lộ doanh thu từ cao Sao Vàng của Dược phẩm TW3 thời điểm hiện tại, chỉ nói nó đóng góp 5-7% tổng doanh thu công ty. Căn cứ trên cáo bạch tài chính của Dược TW3, thì con số khiêm tốn này rơi vào khoảng 500.000-700.000 USD một năm.

“Thay đổi mẫu mã à? Chúng tôi từng có phép thử nhưng gặp phản ứng tiêu cực từ người tiêu dùng. Có những thứ hình thức ăn sâu vào tiềm thức thì không thay đổi được”.

Theo vnExpress.net